Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là cơ hội để bước phát triển tiến trình đổi mới mô hình mở rộng, cơ cấu lại nền tín dụng.Theo TS. Hoàng Xuân Hòa, cuộc CMCN 4.0 với trọng tâm là triển khai thi công một toàn cầu siêu kết nối dựa trên công nghệ số dựa nằm trong 3 công nghệ nền tảng là dữ liệu lớn, điện toán đám mây và kết nối Internet vạn vật đế tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất.
Trong khoảng đó, các quốc gia đã đánh giá và gia tăng các công nghệ thực hiện mới như công nghệ in 3D, máy móc tự động hóa và tích hợp con người-máy móc là những động lực chính thúc đẩy mạnh hơn tài chính toàn cầu chuyển sang tín dụng tri thức thông minh", xóa mờ dần ranh giới giữa một vài khâu/công đoạn và quy trình sản xuất, đặc biệt là nhiều khâu thiết kế, gia công, lắp ráp sản phẩm chế tạo sự, tạo sự thuận lợi và lực đẩy một vài phương án gia tăng mới.
Có thể bạn quan tâm:
> Sức hấp dẫn từ chung cư smart city vingroup
Ông Hòa cho rằng, đây chính là cơ hội cho sự gia tăng đổi mới, sáng tạo và khởi nghiệp quốc gia nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực sát tranh của mỗi đất nước hướng tới sự phát triển bền vững.
VN khi đón cơn bão khoa học - công nghệ này đang vào quá trình mở rộng năng động.
Diễn đàn tín dụng tất cả các nước (WEF) xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2017-2018 tăng 5 bậc, lên thứ 55/137 lãnh thổ, vùng đất nước. Chỉ số tăng trưởng bền vững của VN nguồn tin đánh giá của Liên Hợp quốc năm nay tăng 20 bậc, lên mức 68/157 đất nước, vùng lãnh thổ.
Với khoảng 60% dân số ở độ tuổi lao động, Việt Nam sẽ ở thời kỳ dân số vàng trong ít nhất 20 năm nữa. VN đang đẩy mạnh cải phương án căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo sự nhằm triển khai thi công lực lượng lao động chất lượng cao với một xã hội học tập suốt đời.
Với 93 triệu dân, có nằm trên 130 triệu thuê bao di động, vùng phủ 4G lên đến 99% số quận huyện với gần 60 triệu kết nối mobile băng thông rộng (3G, 4G). Hiện nay 55% dân số đã thường xuyên kết nối Internet, tiên liệu đến năm 2020 sẽ có khoảng 1 triệu lao động làm việc vào ngành nghề công nghệ theo - thống kê nhận được kỳ vọng sẽ tiếp diễn tăng nhanh đưa chỉ số kết nối của Việt Nam ở các năm tới sẽ nhận được cải thiện.
đó là nền tảng thuận lợi để một số mô hình kinh doanh mới, dựa trên kết nối số đi lên nhanh và cũng là những nền tảng và lợi thế rất quan trọng mà những tập đoàn công nghệ cao nằm trên tất cả quốc gia (như: Fujitsu, Intel, Samsung, Siemens, Acatel...) đang tranh thủ để mở rộng đầu tư trong VN.
TS. Hoàng Xuân Hòa thông kê, Việt Nam đang đặt mục tiêu đến năm 2020 có nằm trên 1 triệu doanh nghiệp và hiện nay đang tích cực hỗ trợ khoảng 600 công ty với 2.000 công trình ở lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo sự để bước phát triển một vài doanh nghiệp tiếp cận với công nghệ mới.
VN có "bắt" được CMCN 4.0?
Ông Hòa đặt câu hỏi, với hơn 2.000 dự án khởi nghiệp sáng tạo được chính thức gia nhập thị trường hiện nay và tiếp tục mở rộng trong năm tiếp theo, liệu có thể bước phát triển một cách bứt phá cho doanh nghiệp, mang lại lãi suất cho cho đại đa số cư dân Việt Nam hay không?
Khó khăn trước mắt, theo TS. Hoàng Xuân Hòa, đó là Việt Nam vẫn thiếu khuôn khổ pháp lý để khuyến khích đổi mới sáng tạo, việc đưa một vài thành tựu KHCN chính thức gia nhập thị trường ở cuộc sống bị hạn chế, khoa học công nghệ chưa thực sự trở thành lực lượng sản xuất quan trọng để gia tăng tín dụng.
Ông Hòa dẫn một kết quả thăm dò, khi nhận được hỏi về lý do không dùng nhiều hệ thống dịch vụ công trực tuyến ở hoạt động xuât khâu, 41% đơn vị thông kê do hệ thống dịch vụ công trực tuyến sử dụng không ổn định, 35% đơn vị cho biêt chưa nhận được đào tạo sự và thực hành khai báo nằm trên môi trường trực tuyến, 32% đơn vị lựa chọn lý do trình tự thực hiện dịch vụ công trực tuyến chưa rõ ràng.
Thứ hai, Việt Nam hiện đang bị mắc kẹt vào nhiều hoạt động tạo ít giá trị đi lên. Điều này đã hạn chế nguy cơ học hỏi công nghệ và nâng cao năng lực sáng tạo sự.
Mặt khác, Việt Nam có nguồn vốn nước ngoài đang có những kết quả tốt vào xuất khẩu. Đó là thách thức với nền tài chính nói chung.
FDI tạo điều kiện xuất khẩu lớn, đơn vị Việt phải chạy đua thế nào?
Thứ ba, xuất phát điểm và mặt bằng KHCN cũng như trình độ đi lên của Việt Nam còn thấp so với toàn cầu như: Chất lượng hệ thống dạy và học yếu kém; doanh nghiệp ít sáng tạo, thiếu năng lực khảo sát và phát triển; Năng lực đánh giá của một vài tổ chức khảo sát nhà nước còn yếu kém; Môi trường tài chính vĩ mô không thuận lợi, kinh tế gia tăng chưa đạt dần; Chưa hoạt động thành công cải giải pháp thể chế và môi trường kinh doanh thông qua cải phương thức hệ thống ngân hàng và chống tham nhũng; Thách thức từ một vài vấn đề xã hội như phân hoá xã hội, tệ nạn xã hội mới, nhiều vấn đề môi trường...
bên cạnh đó, hạ tầng KHCN của Việt Nam còn yếu kém so với mặt băng chung của nước ta và tất cả các nước, thiếu các phòng thí nghiệm và thiết bị nghiên cứu hiện đại, đâu tư cho công tác khảo sát và mở rộng (R&D) vẫn ở mức thấp do hạn chế về nguồn lực.
Ông Hòa cho rằng, đây chính là cơ hội cho sự gia tăng đổi mới, sáng tạo và khởi nghiệp quốc gia nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực sát tranh của mỗi đất nước hướng tới sự phát triển bền vững.
VN khi đón cơn bão khoa học - công nghệ này đang vào quá trình mở rộng năng động.
Diễn đàn tín dụng tất cả các nước (WEF) xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2017-2018 tăng 5 bậc, lên thứ 55/137 lãnh thổ, vùng đất nước. Chỉ số tăng trưởng bền vững của VN nguồn tin đánh giá của Liên Hợp quốc năm nay tăng 20 bậc, lên mức 68/157 đất nước, vùng lãnh thổ.
Với khoảng 60% dân số ở độ tuổi lao động, Việt Nam sẽ ở thời kỳ dân số vàng trong ít nhất 20 năm nữa. VN đang đẩy mạnh cải phương án căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo sự nhằm triển khai thi công lực lượng lao động chất lượng cao với một xã hội học tập suốt đời.
Với 93 triệu dân, có nằm trên 130 triệu thuê bao di động, vùng phủ 4G lên đến 99% số quận huyện với gần 60 triệu kết nối mobile băng thông rộng (3G, 4G). Hiện nay 55% dân số đã thường xuyên kết nối Internet, tiên liệu đến năm 2020 sẽ có khoảng 1 triệu lao động làm việc vào ngành nghề công nghệ theo - thống kê nhận được kỳ vọng sẽ tiếp diễn tăng nhanh đưa chỉ số kết nối của Việt Nam ở các năm tới sẽ nhận được cải thiện.
đó là nền tảng thuận lợi để một số mô hình kinh doanh mới, dựa trên kết nối số đi lên nhanh và cũng là những nền tảng và lợi thế rất quan trọng mà những tập đoàn công nghệ cao nằm trên tất cả quốc gia (như: Fujitsu, Intel, Samsung, Siemens, Acatel...) đang tranh thủ để mở rộng đầu tư trong VN.
TS. Hoàng Xuân Hòa thông kê, Việt Nam đang đặt mục tiêu đến năm 2020 có nằm trên 1 triệu doanh nghiệp và hiện nay đang tích cực hỗ trợ khoảng 600 công ty với 2.000 công trình ở lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo sự để bước phát triển một vài doanh nghiệp tiếp cận với công nghệ mới.
VN có "bắt" được CMCN 4.0?
Ông Hòa đặt câu hỏi, với hơn 2.000 dự án khởi nghiệp sáng tạo được chính thức gia nhập thị trường hiện nay và tiếp tục mở rộng trong năm tiếp theo, liệu có thể bước phát triển một cách bứt phá cho doanh nghiệp, mang lại lãi suất cho cho đại đa số cư dân Việt Nam hay không?
Khó khăn trước mắt, theo TS. Hoàng Xuân Hòa, đó là Việt Nam vẫn thiếu khuôn khổ pháp lý để khuyến khích đổi mới sáng tạo, việc đưa một vài thành tựu KHCN chính thức gia nhập thị trường ở cuộc sống bị hạn chế, khoa học công nghệ chưa thực sự trở thành lực lượng sản xuất quan trọng để gia tăng tín dụng.
Ông Hòa dẫn một kết quả thăm dò, khi nhận được hỏi về lý do không dùng nhiều hệ thống dịch vụ công trực tuyến ở hoạt động xuât khâu, 41% đơn vị thông kê do hệ thống dịch vụ công trực tuyến sử dụng không ổn định, 35% đơn vị cho biêt chưa nhận được đào tạo sự và thực hành khai báo nằm trên môi trường trực tuyến, 32% đơn vị lựa chọn lý do trình tự thực hiện dịch vụ công trực tuyến chưa rõ ràng.
Thứ hai, Việt Nam hiện đang bị mắc kẹt vào nhiều hoạt động tạo ít giá trị đi lên. Điều này đã hạn chế nguy cơ học hỏi công nghệ và nâng cao năng lực sáng tạo sự.
Mặt khác, Việt Nam có nguồn vốn nước ngoài đang có những kết quả tốt vào xuất khẩu. Đó là thách thức với nền tài chính nói chung.

FDI tạo điều kiện xuất khẩu lớn, đơn vị Việt phải chạy đua thế nào?
Thứ ba, xuất phát điểm và mặt bằng KHCN cũng như trình độ đi lên của Việt Nam còn thấp so với toàn cầu như: Chất lượng hệ thống dạy và học yếu kém; doanh nghiệp ít sáng tạo, thiếu năng lực khảo sát và phát triển; Năng lực đánh giá của một vài tổ chức khảo sát nhà nước còn yếu kém; Môi trường tài chính vĩ mô không thuận lợi, kinh tế gia tăng chưa đạt dần; Chưa hoạt động thành công cải giải pháp thể chế và môi trường kinh doanh thông qua cải phương thức hệ thống ngân hàng và chống tham nhũng; Thách thức từ một vài vấn đề xã hội như phân hoá xã hội, tệ nạn xã hội mới, nhiều vấn đề môi trường...
bên cạnh đó, hạ tầng KHCN của Việt Nam còn yếu kém so với mặt băng chung của nước ta và tất cả các nước, thiếu các phòng thí nghiệm và thiết bị nghiên cứu hiện đại, đâu tư cho công tác khảo sát và mở rộng (R&D) vẫn ở mức thấp do hạn chế về nguồn lực.
Đăng nhận xét